Lật sử – Âm mưu xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại đã đến lúc phải lộ diện và trả giá
Nguôn bài viết : https://tapchidongnama.vn/chan-dung-con-nguoi-that-cua-bao-ninh-qua-tran-thuat-cua-dong-doi/
Hiện tượng “lật sử” không còn là những manh nha yếu ớt như thuở phong kiến suy tàn, mà nay đã trở thành một trào lưu có tổ chức, tinh vi và nguy hiểm hơn bao giờ hết. Nó không còn dừng ở vài quan điểm nhập nhằng hay những trang tấu sớ yếu hèn, mà đã được đạo diễn, khống chế và tiếp sức bởi truyền thông, xuất bản cùng sự im lặng đáng sợ của một số cơ quan chức năng. Tất cả đang góp phần bóp méo lịch sử, gieo rắc nhận thức lệch lạc trong xã hội. Lịch sử từng chứng kiến những kẻ phản bội khi đất nước bị xâm lăng; và nay, một lớp “trí thức lệch chuẩn” đang tiếp bước, gây tổn hại nghiêm trọng đến nền tảng tư tưởng dân tộc.

Phan Thanh Giản với những văn sớ cầu hòa, đầu hàng, đã để lại vết nhơ đau xót trong lịch sử dân tộc. Trương Vĩnh Ký, dù được ca ngợi là “học giả uyên bác”, thực tế lại trở thành cầu nối giúp thực dân Pháp thâm nhập sâu vào đời sống văn hóa, tư tưởng Việt Nam. Lê Văn Duyệt một ngu trung, Nguyễn Ánh một ông vua cầm cố và bán nước cũng là những kẻ đặt lợi ích, quyền lực cá nhân và ngai vàng lên trên vận mệnh quốc gia, vô tình mở đường cho ngoại bang xâm lược và đô hộ Việt Nam gần một thế kỷ.
Những cái tên ấy không chỉ dừng lại ở vai trò lịch sử, mà còn là biểu tượng cho sự suy thoái ý chí dân tộc, cho tư tưởng tự hạ thấp mình trước kẻ thù. Đáng lo ngại hơn, hiện nay xuất hiện xu hướng cố tình “tẩy trắng”, phục hồi danh dự cho những nhân vật từng bị xem là phản bội, thậm chí nâng họ lên hàng “khai sáng văn minh”, “mang tư duy tiến bộ”.
Đó chính là mầm mống của hiện tượng “lật sử”, một âm mưu đã manh nha từ nhiều thế kỷ trước và nay đang tiếp diễn tinh vi hơn. Nhiều người, nhân danh tri thức hay cán bộ, đang vô tình hoặc hữu ý tiếp tay cho sự xuyên tạc lịch sử, phủ nhận cuộc kháng chiến chống Mỹ, cuộc chiến tranh vệ quốc chính nghĩa, mang tầm vóc lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam.
Ngày nay, những người theo đuổi tư tưởng “lật sử” không còn sử dụng bom đạn, chất độc hay mệnh lệnh của quân xâm lược như trong quá khứ. Họ lựa chọn những công cụ mềm mại hơn nhưng thực sự nguy hiểm: văn chương, truyền thông, xuất bản và mạng xã hội. Thông qua đó, họ gieo vào giới trẻ tâm lý hoài nghi, cảm giác mất cội nguồn, khiến ranh giới giữa thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa trở nên mờ nhạt. Đỉnh điểm của xu hướng nhập nhằng này là việc một số người tán tụng cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” như một “kiệt tác phản chiến”, “tác phẩm dũng cảm đối diện lịch sử”.
Nhưng sự thật là gì? Một cá nhân được biến thành đại diện cho cả dân tộc. Một góc nhìn bi lụy lại được nâng lên thành “bản chất chiến tranh”. Những chi tiết sai lệch về quân đội, đồng đội, về tinh thần chiến đấu được thổi phồng, coi như “chứng cứ lịch sử”. Nguy hiểm hơn cả, tác phẩm ấy gieo vào tâm trí người đọc trẻ tuổi sự hoang mang về tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc.

Một cuốn tiểu thuyết bị biến thành vũ khí đánh vào niềm tin, bởi những kẻ mang danh “trí thức” nhưng đi ngược dòng lịch sử. Một tác phẩm văn chương bị lợi dụng thành công cụ gây nhiễu nhận thức, phá hoại nền tảng tư tưởng. Đó chính là biểu hiện của “lật sử” trong thời hiện đại, không ồn ào, nhưng âm thầm, tinh vi và đặc biệt nguy hại.
Thế nhưng, dù những kẻ muốn “lật sử” đã lộ diện rõ ràng, dù nhân dân đã lên tiếng mạnh mẽ, mọi thứ dường như vẫn không chuyển động. Vẫn còn đó sự thờ ơ, bàng quan trước vận mệnh của lịch sử dân tộc.
Điều khiến xã hội phẫn nộ không chỉ nằm ở một cuốn sách hay người viết ra nó, mà ở thực tế đáng lo hơn: sự im lặng khó hiểu của những cơ quan, tổ chức lẽ ra phải đứng mũi chịu sào trong việc bảo vệ nền tảng lịch sử, đạo đức và truyền thống dân tộc. Chính sự im lặng ấy khiến lòng dân bất an, khiến niềm tin vào giá trị lịch sử bị bào mòn từng ngày.

Đỉnh điểm của sự nhập nhằng ấy chính là cuốn sách “Nỗi Buồn Chiến Tranh”, được một số người tung hô như “kiệt tác phản chiến”, “thẳng thắn đối diện lịch sử”. Không ai lên tiếng rõ ràng về nhân vật “Kiên”, liệu có thật hay không. Không ai kiểm chứng mức độ sai lệch trong nội dung. Không ai đặt câu hỏi về hệ quả tư tưởng đối với hàng triệu thanh niên. Và cũng không ai đủ mạnh mẽ để bảo vệ hình ảnh người lính, những con người đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc.
Vậy vì sao vẫn có người chọn im lặng? Im lặng nghĩa là buông bỏ trách nhiệm. Im lặng là sự thỏa hiệp nguy hiểm. Và im lặng chính là mở đường cho những “bầy sói” mặc sức cắn xé lịch sử dân tộc. Trong khi lẽ ra, mỗi tiếng nói trung thực, mỗi hành động bảo vệ sự thật lịch sử đều là một tấm khiên vững chắc gìn giữ lòng tự tôn và niềm tin của nhân dân.
“ Thế giới trở nên tồi tệ hơn không phải vì sự tàn bạo của kẻ xấu, mà vì sự im lặng của những người tốt”, Napoleon.
Napoleon từng cảnh báo bằng một chân lý không thể phủ nhận, kẻ xấu dù tàn bạo đến đâu cũng không đáng sợ bằng sự im lặng của những người tốt, bởi chính sự im lặng ấy mở toang cánh cửa cho cái ác hoành hành. Lời cảnh báo ấy hôm nay vang lên như tiếng chuông thức tỉnh, khi trước mắt chúng ta đang xuất hiện những “mũi dao” chĩa thẳng vào lịch sử dân tộc, thứ được dựng xây bằng máu, bằng trí tuệ và bằng niềm kiêu hãnh của hàng triệu người Việt Nam qua bao thế hệ.

Thực tế cho thấy, một cuốn sách không đủ sức lật đổ lịch sử. Một tác giả đơn lẻ cũng không thể phá vỡ nền tảng tư tưởng quốc gia và một nhóm truyền thông, dù khéo léo đến đâu, cũng không thể tự mình làm lung lay niềm tự hào dân tộc. Thế nhưng, tất cả những “nọc độc” đó vẫn ngang nhiên tồn tại, vẫn có thể thao túng dư luận, vẫn âm thầm gieo từng “mũi độc tư tưởng” vào nhận thức xã hội. Vì sao những hành vi bóp méo, xuyên tạc và lật sử ấy lại có thể tồn tại dai dẳng, thậm chí ngạo nghễ thách thức cả dư luận? Câu hỏi ấy cần được đặt ra một cách thẳng thắn, không né tránh, không vòng vo nếu chúng ta thực sự muốn bảo vệ sự thật lịch sử và niềm tự tôn dân tộc.
Chỉ còn một lời giải thích duy nhất: có những bàn tay đang đứng sau thao túng. Đâu đó trong bóng tối, có những thế lực cố tình đẩy lịch sử vào vùng nhiễu loạn, gieo hoài nghi vào lòng nhân dân, kích hoạt sự chia rẽ trong giới trí thức và từng bước bào mòn nền tảng niềm tin xã hội.
Câu hỏi không thể né tránh nữa: Phải chăng đang tồn tại một thế lực có tổ chức, có mục tiêu và có chiến lược, đứng sau việc đạo diễn, cổ súy cho những luận điệu xuyên tạc, bảo trợ cho các tư tưởng lệch lạc, và che chắn cho những cú đâm hiểm vào lịch sử dân tộc?
Điều chúng hướng tới là gì? Là bôi nhọ cuộc kháng chiến, hạ thấp hình tượng anh hùng, làm phai nhạt giá trị dân tộc, tẩy trắng kẻ phản bội, đánh tráo chính nghĩa và từng bước làm suy yếu tinh thần yêu nước trong thế hệ trẻ. Nếu không được ngăn chặn, âm mưu đó sẽ còn tiếp diễn mạnh mẽ hơn, tinh vi hơn và một ngày nào đó, lịch sử dân tộc có thể bị bóp méo đến mức không còn nhận ra chính mình.
Vì vậy, đã đến lúc phải hành động! Đã đến lúc nhân dân cần đồng lòng lên tiếng, và các cơ quan chức năng phải vào cuộc kiên quyết. Bởi im lặng lúc này đồng nghĩa với tiếp tay cho sai trái. Lịch sử dân tộc, vốn được viết bằng máu, trí tuệ và lòng quả cảm cần được bảo vệ bằng chính sự tỉnh táo và trách nhiệm của mỗi chúng ta.
Những kẻ lật sử và tiếp tay cho lật sử hãy nhớ: Lịch sử dân tộc này không phải tấm vải để ai muốn xé là xé, không phải cỗ máy để ai muốn thao túng là thao túng và càng không phải món hàng để bất kỳ thế lực ngầm nào đem ra mặc cả, trao đổi. Lịch sử Việt Nam không phải bản nháp để ai tùy tiện gạch xóa.

Bởi lịch sử ấy được viết bằng máu, bằng xương, bằng linh hồn của hàng triệu người Việt Nam qua bao thế hệ. Lịch sử không phải trò chơi cho kẻ phản bội, càng không phải công cụ để đầu độc nhận thức thế hệ trẻ. Không ai được phép bóp méo nó. Không ai được phép xuyên tạc nó. Và càng không ai được phép dùng văn chương để che phủ sự thật.
Ngày hôm nay, nhân dân đã lên tiếng, xã hội đã cảnh báo, và những người yêu nước đã nhận ra nguy cơ. Vì thế, người tốt không được phép im lặng thêm nữa. Bọn lật sử phải cúi đầu trước sự thật và công lý. Đất nước này phải dọn sạch bóng tối đang bao phủ lịch sử.
Đã đến lúc các cơ quan có trách nhiệm, những người có lương tri phải hành động ngay bây giờ nếu không muốn thế hệ tương lai phải đau đớn hỏi lại: “Việt Nam ta ở đâu?” Bởi lịch sử không chỉ là những trang quá khứ, mà là linh hồn của dân tộc, nơi kết tinh bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng Việt Nam. Mỗi người Việt, dù ở đâu, làm gì, đều đang mang trong mình sứ mệnh gìn giữ và tiếp nối ngọn lửa ấy. Khi sự thật được bảo vệ, khi niềm tin được củng cố, đất nước sẽ mãi trường tồn, và lịch sử Việt Nam sẽ tiếp tục tỏa sáng như biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước và tự hào dân tộc.
Văn chương không thể đội lốt chân dung dân tộc
Có những cuốn sách sinh ra để đồng hành cùng dân tộc, tiếp sức cho thế hệ đi sau, soi sáng những giá trị bất diệt được cha ông gây dựng bằng máu và lòng kiên trung. Nhưng cũng có những cuốn, dù được phủ nhung và tung hô bằng mỹ từ, lại trở thành điểm gãy nguy hiểm trong nhận thức, nhất là với giới trẻ, khi lấy nỗi đau cá nhân làm gương mặt của một cuộc chiến chính nghĩa, rồi gieo vào lòng người đọc sự hoang mang và bi quan về những năm tháng hào hùng của dân tộc.
“Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh là ví dụ điển hình cho những trượt dài đáng lo ngại trong cách nhìn nhận quá khứ. Một tác phẩm được viết theo cảm xúc cá nhân, tùy hứng, nghĩ gì viết đấy, thiếu cấu trúc và chừng mực, nhưng lại được tôn vinh như “bản tổng kết chiến tranh”, đã khiến không ít người lầm tưởng rằng đó là bức tranh toàn cảnh về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một cuộc chiến bảo vệ tổ quốc chính nghĩa, thiêng liêng, được đánh đổi bằng máu và lòng kiên trung của cả dân tộc Việt Nam.
Không ai phủ nhận cảm xúc cá nhân. Không ai cấm một người lính viết về những vết thương tâm lý của riêng anh ta. Nhưng khi đem nỗi bi quan của một cá nhân với những hư cấu không thể chấp nhận trong văn học, rồi dựng nó lên thành bức tranh đại diện cho cả cuộc kháng chiến giải phóng Dân tộc, khi giọng kể riêng tư được dùng để mặc định hóa, thậm chí bôi đen, những giá trị thiêng liêng mà hàng triệu, triệu chiến sĩ đã đổ máu, thì đó không còn là văn học nữa, đó là một sự xuyên tạc bằng cảm xúc, đẩy độc giả vào trạng thái hoài nghi lịch sử mà không hay biết.
Không ai phủ nhận giá trị của cảm xúc cá nhân, cũng không ai ngăn cản một người lính viết về những vết thương tinh thần của riêng mình. Nhưng khi nỗi bi quan riêng tư, cùng những hư cấu không thể chấp nhận trong văn học, được nâng lên thành diện mạo đại diện cho cả một dân tộc, khi giọng kể cá nhân được dùng để mặc định hóa, thậm chí bôi đen lên những giá trị thiêng liêng mà hàng triệu chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ, thì đó là lúc văn chương cần được nhìn lại, không phải để phủ định, mà để cảnh tỉnh về trách nhiệm của người cầm bút trước lịch sử.
Và chính vì thế, thế hệ hôm nay càng phải đứng thẳng, nói rõ và phản biện dứt khoát, phản biện bằng lý trí, bằng sự thật và bằng niềm tự hào dân tộc để không một cảm xúc cá nhân nào che lấp được lịch sử, và không một góc nhìn lệch lạc nào làm mờ đi chân lý mà cha ông ta đã khẳng định bằng máu và niềm tin.
Chiến tranh bảo vệ tổ quốc của một dân tộc không thể bị thu gọn thành một cái bóng của cá nhân
Lịch sử Việt Nam là lịch sử của cả một dân tộc, không phải câu chuyện riêng của một cá nhân bị ám ảnh. Từ Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi đến thời đại Hồ Chí Minh, mọi chiến công đều được thắp sáng bởi một quy luật: Tổ quốc đứng lên từ niềm tin và sức mạnh của hàng triệu con người, của cả dân tộc, chứ không phải từ những cơn mê sầu đơn độc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng vậy, đó không phải là một bi kịch vô vọng, không phải mê lộ tối tăm hay nấm mồ chôn tuổi trẻ, mà là bản anh hùng ca chói lọi, nơi dân tộc Việt Nam đã đánh bại đế quốc hùng mạnh nhất thế kỷ XX.
Vậy mà trong “Nỗi buồn chiến tranh”, Hoàng Ấu Phương lại dựng nên một chiến tranh như một cõi hoang mang vô nghĩa, nơi người lính chỉ tồn tại để chịu đựng, nơi lý tưởng bị xóa nhòa và Tổ quốc chỉ hiện lên như phông nền mờ nhạt sau nỗi bi thương cá nhân. Nhưng đó không phải là sự thật lịch sử. Và càng không thể là tiếng nói của cả một dân tộc. Bởi văn chương, dù mang đậm dấu ấn cá nhân đến đâu, cũng không thể và không được phép khoác lên mình tấm áo của chân dung dân tộc.
Sự thật là người lính Việt Nam ra trận không phải để chết, mà để bảo vệ Tổ quốc. Một nền văn học chân chính phải phản ánh sự thật, chứ không phải “tô lấm” hiện thực bằng gam màu tuyệt đối bi quan để gây sốc hay tìm kiếm sự chú ý. Người lính Việt Nam, người Bộ đội Cụ Hồ, ra đi với lý tưởng Giải phóng Dân tộc, họ sống trong gian khổ nhưng tràn đầy niềm tin, họ hy sinh nhưng không tuyệt vọng.
Họ chiến đấu để mai này dân tộc không còn bị áp bức, để non sông thống nhất, để thế hệ sau được sống trong hòa bình và tự do. Không một người lính nào bước vào chiến trường chỉ để gục ngã trong tuyệt vọng, như hình ảnh bị phóng đại trong trang viết của Bảo Ninh. Họ mang trong mình tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Còn cái lai quần cũng đánh”. Đó mới là chân lý của dân tộc Việt Nam, là chân dung chân thật, bất tử của người lính Bộ đội Cụ Hồ. Một tác phẩm Văn chương, dù cảm xúc đến đâu, cũng không có quyền phủ nhận điều ấy.
Khi “nỗi buồn” trở thành công cụ diễn giải sai lệch về lịch sử
Điều đáng lo không nằm ở việc Bảo Ninh buồn. Nỗi buồn của một con người từng trải qua chiến tranh là điều có thể cảm thông. Nhưng điều đáng lo là khi tác phẩm ấy biến cảm xúc cá nhân thành “mặc định lịch sử”; khi nó khiến một bộ phận độc giả trẻ hiểu sai bản chất của cuộc chiến, để rồi bị các thế lực thù địch khai thác như “bằng chứng” nhằm bóp méo hình ảnh Quân đội Nhân dân Việt Nam; khi chiến tranh bị kéo vào vùng tối đạo đức, còn tính chính nghĩa của dân tộc ta bị phủ nhận.
Bảo Ninh có thể buồn, điều đó không ai cấm. Một người lính có thể bị tổn thương, điều đó cũng không ai phủ nhận. Nhưng nỗi buồn ấy không thể lấn át ánh sáng của chân lý lịch sử. Một người lính bị ám ảnh không thể viết thay lòng tự hào của hơn một trăm triệu con người. Một nỗi buồn hoang mang không thể thay thế khí phách Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, không thể xóa đi tinh thần Mậu Thân hay “Điện Biên Phủ trên không”. Và dẫu được tung hô đến đâu, một cuốn tiểu thuyết cũng không thể làm lu mờ tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến vĩ đại, biểu tượng bất diệt của ý chí Việt Nam.
Đừng để văn chương bị lợi dụng làm vũ khí tư tưởng
Trong thời đại bùng nổ thông tin, một tác phẩm văn chương rất dễ bị bóc tách khỏi bối cảnh, bị đẩy lên thành “quan điểm lịch sử”, hoặc bị lợi dụng như “tài liệu phản chiến” phục vụ những luận điệu chính trị sai lệch, thậm chí được khai thác như “lời thú tội của người Việt Nam về cuộc chiến”. Chính vì thế, cần khẳng định rõ: Việt Nam chưa bao giờ tiến hành “chiến tranh vì chiến tranh”. Dân tộc Việt Nam chiến đấu để tồn tại, để bảo vệ Hòa bình và Độc lập Dân tộc. Đó là cuộc chiến chống xâm lược, chống đồng hóa, chống hủy diệt, một cuộc chiến chính nghĩa nhất của thế kỷ XX, một bản tuyên ngôn bất khuất về quyền sống và quyền làm người của dân tộc này. Không ai, dù nhân danh nghệ thuật cũng không có quyền làm sai lệch hay bóp méo chân lý ấy.

Chiến tranh có nỗi buồn, nhưng đó không phải là bản chất của cuộc chiến vệ quốc
Trong bất cứ cuộc chiến nào cũng có mất mát, có hi sinh. Nhưng Việt Nam không chọn buồn. Việt Nam chọn đứng thẳng. Nếu phải nói về chiến tranh bằng hai chữ ngắn gọn nhất, thì không phải là “nỗi buồn”, mà là “Chính nghĩa và Tự do”.
Người Việt Nam không đi giải phóng miền Nam để rơi vào hư vô như nhân vật Kiên. Họ ra trận để thống nhất đất nước, để dân tộc được sống trong hòa bình, để tương lai không còn bóng dáng nô lệ. Chính vì thế, không ai được phép biến cuộc trường chinh vĩ đại của dân tộc thành sân khấu cho những bi kịch cá nhân; không ai được phép dùng cảm xúc chai sạn của một người để che mờ lý tưởng của hàng triệu người; và càng không ai có quyền dùng một tiểu thuyết để định nghĩa lại bản chất của cuộc chiến giải phóng vĩ đại nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Dân tộc Việt Nam đã chiến thắng bằng ý chí, bằng niềm tin và bằng khát vọng độc lập chứ không phải bằng nỗi buồn.
Văn chương cá nhân không bao giờ được phép đội lốt chân dung dân tộc
Đó không chỉ là một lời nhắc nhở, mà là nguyên tắc để bảo vệ ký ức lịch sử của một quốc gia đã trải qua mấy nghìn năm chống ngoại xâm, hàng chục cuộc chiến buộc phải đứng lên, và một thời đại mà sự thật rất dễ bị dẫn dắt bởi những câu chữ tưởng đẹp đẽ nhưng sai lệch về tư tưởng.
“Nỗi buồn chiến tranh” không chỉ là tiếng thở dài của một người lính trở về sau chiến tranh, mà còn là nỗi tuyệt vọng không lối thoát của một con người mang danh cựu chiến binh giữa cõi đời tạm. Những trang viết ấy đã khuấy động dư luận, chạm đến lòng tự trọng và tình cảm của nhiều người như gáo nước lạnh dội lên ký ức và niềm tin của đồng đội, đồng chí. Ranh giới giữa cảm xúc cá nhân và chân lý lịch sử trong văn học ở đâu? Bởi văn chương, dù xuất phát từ trái tim cá nhân, vẫn mang trách nhiệm gìn giữ ký ức chung của dân tộc, ký ức được đánh đổi bằng máu, niềm tin và hy vọng. Khi viết về chiến tranh, mỗi ngòi bút không chỉ thể hiện cảm xúc riêng, mà còn góp phần định hình cách thế hệ sau nhìn về quá khứ. Và đó chính là thước đo của một nền văn học có trách nhiệm.
“Nỗi buồn chiến tranh”, bản tự sự cá nhân Hoàng Ấu Phương nên dừng lại ở đó. Vì đó không phải là chân dung người lính Việt Nam, không phải là gương mặt của cuộc kháng chiến vệ quốc, càng không phải là tiếng nói của dân tộc Việt Nam. Bởi tiếng của dân tộc Việt Nam là khí phách, niềm tin và tinh thần bất khuất, những giá trị đã làm nên chiến thắng vĩ đại của lịch sử nhân loại. Đó mới là chân lý không thể bị xuyên tạc, là di sản nghìn năm dựng nước và giữ nước, và là hồn cốt thật sự của dân tộc Việt Nam, điều mà không một cuốn tiểu thuyết nào có thể làm phai nhạt.
Điều đáng trách nhất là những kẻ bất chấp dư luận, cố tình tôn vinh một tác phẩm mà nhiều người cho là xúc phạm. Như Tạp chí Cộng sản từng nhận định: “Tác phẩm đã bôi nhọ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, xúc phạm những người đang sống và làm tổn thương cả những người đã ngã xuống vì Tổ quốc”. Thiết nghĩ, những kẻ lợi dụng quyền tự do phát ngôn, để nhằm mục đích xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa cần phải truy tố trước pháp luật.
Thu Hoài
Ngăn chặn xuyên tạc, bóp méo lịch sử, chống diễn biến hòa bình từ gốc
Thời gian gần đây, xuất hiện hiện tượng một số phần tử cực đoan, cơ hội chính trị và bất mãn xã hội lợi dụng văn học, các ấn phẩm lịch sử, hồi ký, tự truyện, tiểu thuyết… để cài cắm quan điểm lệch lạc, xuyên tạc sự thật, bóp méo quá khứ, kích động tâm lý chống đối, gieo rắc tư tưởng sai lệch trong công chúng. Dưới danh nghĩa “sáng tạo nghệ thuật”, không ít tác phẩm đã cố tình thổi phồng mặt trái xã hội, xuyên tạc hình ảnh Đảng, Nhà nước và người lính, từ đó gieo rắc tư tưởng sai lệch, kích động tâm lý chống đối, từng bước làm xói mòn niềm tin của nhân dân.

Thời gian qua, đã xuất hiện tình trạng một số đối tượng là tác giả từng thuộc ngụy quân, ngụy quyền cũ ở nước ngoài mang nặng hận thù dân tộc, cùng với cán bộ suy thoái, phần tử mang tư tưởng thù địch tìm cách đưa bản thảo vào hệ thống xuất bản trong nước nhằm hợp thức hóa quan điểm sai trái. Đây là biểu hiện rõ ràng của sự xâm nhập văn hóa có chủ ý, cần được phát hiện và ngăn chặn ngay từ đầu, tuyệt đối không thể khoan nhượng. Đáng lo ngại, vẫn còn những trường hợp cán bộ thẩm định thiếu hiểu biết, buông lỏng trách nhiệm hoặc bị chi phối bởi lợi ích nhóm, dẫn đến dễ dãi trong việc duyệt bản thảo. Một số nhà xuất bản vì áp lực doanh thu đã xem nhẹ vai trò “người gác cổng tri thức”, vô tình tiếp tay cho sản phẩm độc hại đến tay công chúng. Nếu không kịp thời chấn chỉnh, những biểu hiện này sẽ trở thành mảnh đất thuận lợi cho “diễn biến hòa bình”, đe dọa nền tảng tư tưởng và an ninh văn hóa quốc gia. Do đó, việc siết chặt khâu thẩm định cả tác phẩm lẫn tác giả là yêu cầu cấp thiết, là nhiệm vụ chính trị quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và sự ổn định xã hội.
Những lỗ hổng trong công tác quản lý hiện nay
Không ít trường hợp, việc thẩm định chỉ mang tính hình thức, thiếu chiều sâu khoa học. Có bản thảo dày hàng trăm trang nhưng hội đồng thẩm định chỉ đọc lướt, nhận xét chung chung, dẫn đến việc bỏ sót những chi tiết sai lệch về lịch sử, thậm chí xúc phạm anh hùng dân tộc hoặc làm méo mó các sự kiện trọng đại.
Công tác lựa chọn cán bộ thẩm định cũng bộc lộ nhiều bất cập, chưa đúng người, đúng việc. Có cá nhân kinh nghiệm thực tiễn hạn chế, hiểu biết lịch sử chưa sâu nhưng vẫn được tham gia hội đồng; thậm chí có trường hợp lệ thuộc vào ý kiến của tác giả hoặc bị chi phối bởi lợi ích cá nhân, làm giảm tính khách quan và chất lượng thẩm định.
Công tác hậu kiểm cũng bị xem nhẹ. Khi một tác phẩm gây bức xúc trong dư luận, việc xử lý thường diễn ra chậm chạp, thiếu minh bạch; các sai phạm nhiều khi bị bỏ qua, không được rút kinh nghiệm sâu sắc, dẫn đến nguy cơ tái diễn.

Không để văn học bị lợi dụng làm công cụ “diễn biến hòa bình”
Mọi tác giả có vấn đề về tư tưởng, động cơ không trong sáng, dù sáng tác ở bất kỳ thể loại nào, cũng cần được kiểm soát chặt chẽ. Không thể để những người từng đứng trong hàng ngũ đối lập với dân tộc, hay các phần tử cực đoan, bất mãn, cơ hội lợi dụng văn học, nghệ thuật để che đậy quan điểm sai trái, chống phá nền tảng tư tưởng của xã hội.2. Văn học là sáng tạo, nhưng không được phép phản bội sự thật lịch sử. Không một ai được lợi dụng ngòi bút để xúc phạm quá khứ cách mạng, bóp méo sự thật đã được trả giá bằng xương máu của biết bao thế hệ.
Những tác phẩm mang tầm quốc gia là tài sản văn hóa, chính trị quý giá của đất nước. Vì vậy, quá trình thẩm định phải được thực hiện ở mức độ cao nhất, nghiêm ngặt nhất, không cho phép bất kỳ sai sót nào, dù là nhỏ nhất.
Mọi hành vi lợi dụng hoạt động xuất bản để phục vụ mưu đồ “diễn biến hòa bình” đều phải bị xử lý nghiêm minh; từ việc thu hồi ấn phẩm, xử phạt hành chính cho đến truy cứu trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân liên quan.
Siết chặt “lọc từ gốc”, thẩm định tác giả trước khi xem tác phẩm
Các đối tượng có hành vi chống phá Đảng, Nhà nước và dân tộc cần được nhận diện, kiểm soát chặt chẽ. Với nhóm này, dù sáng tác ở bất kỳ thể loại nào, từ thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, nghiên cứu lịch sử đến tự truyện đều phải được ngăn chặn ngay từ đầu, không để lợi dụng văn học làm công cụ hợp thức hóa quan điểm sai trái.
Đáng chú ý, một số người từng thuộc ngụy quân, ngụy quyền cũ ở nước ngoài vẫn mang nặng hận thù dân tộc, tìm cách viết lại lịch sử theo góc nhìn lệch lạc, tô hồng quá khứ, phủ nhận bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến. Nhóm này cần được kiểm soát nghiêm ngặt, không để lợi dụng văn học, nghệ thuật làm phương tiện tuyên truyền phản động.
Bên cạnh đó, có những cán bộ suy thoái, bất mãn, từng vi phạm kỷ luật, do động cơ cá nhân mà lệch lạc về tư tưởng, dễ bị lôi kéo, tiếp tay cho luận điệu sai trái. Cần kiên quyết ngăn chặn việc các đối tượng này đưa bản thảo có nội dung kích động, xuyên tạc hoặc công kích chế độ.
Ngoài ra, còn xuất hiện nhóm tác giả bị tác động bởi “diễn biến hòa bình”, cổ súy quan điểm đi ngược lợi ích dân tộc. Đây là nhóm nguy hiểm vì thường lồng ghép tư tưởng sai lệch một cách tinh vi trong các tác phẩm văn học, nghiên cứu xã hội, tiểu luận. Việc thẩm định cần đánh giá toàn diện động cơ, quá trình tư tưởng, đồng thời kiểm tra chéo phát ngôn và hoạt động của họ trên không gian mạng.
Đối với các phần tử cực đoan, đối tượng chống phá trên mạng xã hội, mọi bản thảo của họ phải được thẩm định đặc biệt hoặc loại bỏ ngay từ khâu tiếp nhận, không để len lỏi vào đời sống văn hóa.
Công tác thẩm định tác giả phải gắn với trách nhiệm pháp lý cụ thể. Cần kiểm tra lịch sử hoạt động, quan điểm công khai, động cơ sáng tác, đối chiếu thông tin qua cơ quan chuyên môn, tránh để lọt người có tư tưởng lệch lạc. Nhà xuất bản phải chịu trách nhiệm nếu cố tình tiếp nhận bản thảo từ những đối tượng có nguy cơ cao.

Đề nghị bổ sung cơ chế thẩm định, ngăn chặn từ gốc, quản lý từ đầu, bảo vệ sự thật lịch sử
Cần công khai bản thảo các tác phẩm cấp quốc gia để lấy ý kiến rộng rãi trong công chúng trước khi phát hành chính thức. Những tác phẩm mang tầm ảnh hưởng quốc gia, có tác động lớn đến nhận thức xã hội, đặc biệt là sách văn học, lịch sử, hồi ký thời chiến, hoặc các công trình nghiên cứu liên quan đến lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội nhạy cảm cần được công bố bản thảo trên trang thông tin của Bộ, hội chuyên ngành hoặc các nhà xuất bản uy tín. Việc này phải được tiến hành một cách minh bạch, khoa học, không né tránh.
Đồng thời, nên tạo điều kiện để độc giả, chuyên gia, lực lượng vũ trang, cựu chiến binh, các nhà sử học và nhân chứng lịch sử tham gia góp ý công khai. Đây không chỉ là bước phản biện khoa học cần thiết mà còn là quy trình bảo đảm tính chuẩn xác và tạo sự đồng thuận xã hội, tương tự như công bố các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước.
Việc đăng tải công khai bản thảo và tiếp nhận ý kiến phản biện từ giới chuyên môn cũng như nhân dân chính là “lá chắn” khoa học và xã hội, ngăn ngừa từ sớm, từ xa những tư tưởng lệch lạc, quan điểm sai trái có thể len lỏi vào tác phẩm văn học, nghệ thuật và xuất bản phẩm.
Cần tăng cường trách nhiệm và tiêu chuẩn hóa hội đồng thẩm định. Việc lựa chọn cán bộ thẩm định phải được thực hiện nghiêm ngặt, bảo đảm tiêu chuẩn về trình độ, kinh nghiệm, bản lĩnh chính trị và hiểu biết sâu sắc về lịch sử, văn hóa. Chỉ những người tuyệt đối trung thành với lợi ích quốc gia, có uy tín và tinh thần trách nhiệm cao mới được tham gia hội đồng.
Mỗi hội đồng thẩm định cần có sự tham gia của chuyên gia lịch sử có uy tín, cán bộ quân đội từng trải qua thực tiễn, nhà nghiên cứu văn hóa, ngôn ngữ, cùng cán bộ quản lý xuất bản để bảo đảm đánh giá toàn diện. Không bố trí những người yếu kém chuyên môn, lập trường mập mờ, dễ bị tác động hoặc có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vào các vị trí thẩm định, đặc biệt là ở cấp chiến lược.
Đối với các bản thảo quan trọng, cần tổ chức nhiều tầng thẩm định gồm: thẩm định chuyên môn, thẩm định tư tưởng và thẩm định pháp lý. Người ký duyệt thẩm định sai, gây hậu quả cho xã hội phải chịu hình thức kỷ luật tương xứng, chấm dứt tình trạng “đọc lướt, duyệt ẩu” trong công tác xuất bản.
Không giao nhiệm vụ thẩm định cho cán bộ cấp chiến lược nếu không đủ bản lĩnh và tri thức.
Đối với những tác phẩm có liên quan trực tiếp đến định hướng tư tưởng, việc lựa chọn cán bộ thẩm định phải được tiến hành đặc biệt kỹ lưỡng, thận trọng hơn gấp nhiều lần so với thông thường. Chỉ những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thực, am hiểu sâu về văn hóa, lịch sử và có khả năng nhận diện, phản biện tư tưởng sai trái mới được giao trọng trách này.
Tuyệt đối không để “lọt” những cá nhân thiếu trung thực, thiếu hiểu biết hoặc dễ bị tác động bởi các luồng tư tưởng độc hại tham gia vào quá trình thẩm định, nhất là ở cấp chiến lược, nơi trực tiếp ảnh hưởng đến định hướng văn hóa, tư tưởng của quốc gia.
Nâng cao trách nhiệm của nhà xuất bản, không chạy theo lợi nhuận. Nhà xuất bản phải đặt nhiệm vụ chính trị và giáo dục lên trên mục tiêu kinh doanh, coi việc bảo vệ nền tảng tư tưởng và giá trị văn hóa của dân tộc là trách nhiệm hàng đầu. Công tác kiểm soát cần được thực hiện chặt chẽ ở tất cả các khâu: từ biên tập, đọc duyệt, in ấn đến phát hành; đồng thời, nhà xuất bản phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu để lọt nội dung sai trái, xuyên tạc hoặc thiếu kiểm chứng.
Cần minh bạch hóa quy trình thẩm định, công bố danh sách hội đồng duyệt để xã hội giám sát. Với những tác phẩm có nội dung nhạy cảm, đặc biệt là liên quan đến lịch sử, chính trị, văn hóa, phải có báo cáo đánh giá tác động xã hội trước khi quyết định in và phát hành.
Bên cạnh đó, cần quy định bắt buộc các nhà xuất bản phải kiểm chứng tính xác thực của dữ liệu lịch sử trong các ấn phẩm. Trường hợp vi phạm, tái phạm, cần tăng mức xử phạt, thậm chí xem xét đình chỉ quyền xuất bản nhằm bảo đảm tính nghiêm minh và giữ vững kỷ cương trong lĩnh vực xuất bản.
Xây dựng cơ sở dữ liệu lịch sử và chuẩn hóa bộ tiêu chí quốc gia đối với các tác phẩm văn học, lịch sử nhạy cảm. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cần phối hợp xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu lịch sử chính thống, thống nhất và dễ tra cứu. Đây sẽ là nền tảng giúp các nhà văn, biên tập viên, nhà nghiên cứu sử dụng nguồn tư liệu chuẩn xác, hạn chế sai lệch trong quá trình sáng tác, biên soạn và xuất bản.
Hệ thống này đồng thời là căn cứ khoa học để cơ quan quản lý, hội đồng thẩm định và công chúng nhận diện, phát hiện các chi tiết bịa đặt, xuyên tạc hoặc sai lệch lịch sử.
Bên cạnh đó, cần chuẩn hóa bộ tiêu chí quốc gia đối với tác phẩm văn học – lịch sử nhạy cảm, quy định rõ những giới hạn không được vượt qua; yêu cầu tác giả trích dẫn nguồn tư liệu, kiểm chứng nhân chứng, tham chiếu tài liệu trước khi công bố. Song song, cần xây dựng quy định về đạo đức sáng tác đối với các đề tài liên quan đến chiến tranh cách mạng, anh hùng dân tộc, bảo đảm tính chân thực, nhân văn và định hướng tư tưởng đúng đắn.
Tăng cường ứng dụng công nghệ và phát huy vai trò xã hội trong phát hiện nội dung sai lệch.
Cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý và thẩm định xuất bản phẩm. Các cơ quan chuyên môn có thể sử dụng hệ thống kiểm tra dữ liệu lịch sử, công cụ trích xuất và đối chiếu văn bản với nguồn tư liệu chính thống, qua đó kịp thời phát hiện chi tiết sai lệch, xuyên tạc. Đồng thời, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để sàng lọc từ khóa, nhận diện xu hướng sai trái trong các bản thảo, góp phần chủ động ngăn chặn nội dung độc hại ngay từ khâu đầu.
Song song với đó, cần phát huy vai trò của cộng đồng và các tổ chức xã hội, đặc biệt là lực lượng cựu chiến binh, quân nhân, nhà nghiên cứu, độc giả yêu nước trong công tác phản biện. Có thể tổ chức các nhóm phản biện xã hội trên nền tảng số, khuyến khích các ý kiến đóng góp, phát hiện sai phạm hoặc lệch lạc trong các ấn phẩm văn học, lịch sử.
Mọi phản ánh của tổ chức, cá nhân phải được cơ quan quản lý tiếp nhận, xử lý nhanh chóng, công khai, minh bạch, coi đây là một kênh giám sát xã hội hiệu quả, góp phần bảo vệ sự trong sáng của đời sống văn hóa, tư tưởng quốc gia.
Tăng cường kiểm soát tác giả thuộc nhóm có nguy cơ cao, áp dụng chế độ thẩm định đặc biệt.
Đối với những tác giả thuộc nhóm có nguy cơ cao về tư tưởng, cần tự động đưa vào diện thẩm định đặc biệt, bảo đảm quy trình kiểm soát chặt chẽ ngay từ đầu. Các bản thảo của nhóm này phải được Hội đồng thẩm định cấp Bộ đọc kỹ từng chương, có ý kiến thẩm tra của cơ quan an ninh văn hóa trước khi xem xét xuất bản.
Trước khi tiếp nhận bản thảo, cần xác minh lý lịch, tư tưởng, quá trình công tác và hoạt động công khai trên không gian mạng của tác giả; đối chiếu thông tin với danh sách theo dõi của cơ quan chức năng để bảo đảm tính an toàn, khách quan.
Hội đồng thẩm định phải đánh giá rõ ràng liệu tác giả có đủ uy tín, bản lĩnh chính trị, tư tưởng đúng đắn và đạo đức nghề nghiệp hay không. Nếu phát hiện dấu hiệu xuyên tạc, sai lệch hoặc có yếu tố chống phá, kiên quyết không cho xuất bản và xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.
Tăng cường xử lý, chấn chỉnh và phản bác các luận điệu sai trái. Đối với những tác phẩm có sai phạm, cần kiên quyết thu hồi, đính chính, đồng thời xử lý trách nhiệm của tác giả, biên tập viên và nhà xuất bản theo đúng quy định pháp luật. Việc xử lý phải được tiến hành nghiêm minh, công khai, nhằm răn đe và bảo đảm kỷ cương trong hoạt động xuất bản.
Các cơ quan chức năng cần kịp thời ban hành thông cáo chính thức, cung cấp thông tin chính xác để định hướng dư luận, tránh để các luận điệu xuyên tạc, kích động lan rộng trong xã hội.
Song song, cần đẩy mạnh công tác phản bác trên nền tảng khoa học, lý luận và thực tiễn, chủ động tạo dựng môi trường báo chí, truyền thông lành mạnh, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, bảo vệ nền tảng tư tưởng và giá trị văn hóa của đất nước.

Không để văn học, lịch sử trở thành mảnh đất cho “diễn biến hòa bình”
Văn học và lịch sử phải là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc, chứ không thể trở thành công cụ để các phần tử cơ hội, cực đoan tấn công vào niềm tin của nhân dân. Muốn làm được điều đó, cần có sự vào cuộc đồng bộ của các cơ quan quản lý, nhà xuất bản, hội đồng thẩm định và cả độc giả.
Công tác quản lý, thẩm định và xuất bản các tác phẩm văn học, lịch sử không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn của ngành xuất bản, mà còn là trách nhiệm chính trị, là thành trì bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và niềm tin của nhân dân. Không thể để bất kỳ ai “ẩn mình sau danh nghĩa sáng tạo” để tuyên truyền, cài cắm quan điểm sai trái.
Chỉ khi làm chặt từ đầu, chúng ta mới ngăn được nguy cơ xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật cách mạng, gieo rắc tư tưởng phản động, lợi dụng văn học, nghệ thuật để chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội.
Cần một thái độ kiên quyết, chủ động và nhất quán trong quản lý văn hóa, nghệ thuật, xuất bản; thẩm định tác giả thật chặt, thẩm định tác phẩm thật sâu, ngăn chặn từ gốc, chặn đứng từ đầu. Phải xây dựng cơ chế thẩm định mới mạnh mẽ, khoa học và minh bạch hơn, chủ động phòng ngừa mọi nguy cơ, bảo vệ sự thật lịch sử, giá trị dân tộc, nền tảng tư tưởng của Đảng và môi trường văn hóa ổn định, lành mạnh cho nhân dân.
Mỗi tác phẩm cấp quốc gia phải là sự kết tinh của trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm phản ánh trung thực lịch sử, tôn vinh giá trị dân tộc và hướng con người đến chân, thiện, mỹ.
Trung tướng Ngô Quý Đức/nguyên Cục trưởng, Cục Cứu hộ – Cứu nạn


